KARUTA – Nét truyền thống độc đáo của người Nhật

Karuta là một trò chơi bài lá của Nhật Bản xuất xứ từ Châu Âu. Karuta trở thành nét truyền thống của người Nhật đa dạng với nhiều biến thể khác nhau, nhưng có 3 loại phổ biến là Uta garuta, Iroha karuta và Hanafuda. Vậy cùng Nhật ngữ SOFL tìm hiểu nét độc đáo này nhé!

Karuta

Karuta 

Karuta

Karuta - Nét truyền thống độc đáo của người Nhật

- Karuta có xuất xứ từ châu Âu, cụ thể là Bồ Đào Nha. Karuta (かるた) được biến âm từ chữ “carta” trong tiếng Bồ, chỉ các loại bài lá. Karuta ban đầu được lấy cảm hứng từ Kai-Awase (貝合わせ), một trò chơi bắt nguồn từ thời Heian (794 - 1185).

- Về hình thức, bài Karuta thường có dạng chữ nhật với kích thước nhỏ bằng lòng bàn tay và được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, ở lá bài Karuta chúng ta sẽ được thấy hình ảnh 100 vị thi nhân nổi tiếng của Nhật Bản.

- Karuta khá đa dạng với nhiều biến thể khác nhau, nhưng có 3 loại bài phổ biến nhất là Uta garuta, Iroha karuta và Hanafuda.

1. 歌がるた /Uta garuta/: “歌 - Uta” có nghĩa là bài hát hoặc bài thơ cổ, còn “がるた - Garuta” là biến âm của Karuta. Nói cách khác, đây là loại bài ngâm thơ. Trên những lá bài Uta garuta được in các bài thơ trong tập “百人一首 - Hyakunin Isshu” (Bách nhân nhất thủ) hay còn gọi là tập “Thơ trăm nhà”.

Uta garuta

Bộ bài Uta garuta sẽ được chia thành hai bộ nhỏ là “読札 - Yomifuda” (bài đọc), in những bài thơ hoàn chỉnh, hình ảnh và tên tác giả của bài thơ đó; bộ còn lại được gọi là “取り札 - Torifuda” (bài lấy), mỗi lá Torifuda sẽ tương ứng với một lá Yomifuda và in những dòng cuối của mỗi bài thơ. Mỗi bộ nhỏ bao gồm 100 lá bài.

* Cách chơi: Những người chơi bài sẽ được chia làm 2 nhóm ngồi trên chiếu Tatami. Người điều khiển trò chơi (người ngâm thơ) sẽ giữ trong tay đầy đủ 100 lá bài Yomifuda, còn những lá Torifuda sẽ đặt trước mặt các đấu thủ. Khi một lá Yomifuda được ngâm, người chơi cần nhanh chóng tìm ra thẻ Torifuda có ghi nửa sau của bài thơ tương ứng.

2. いろはかるた /Iroha karuta/: xuất hiện từ thời Edo (1603 - 1868), tổng cộng 96 lá, trong đó 48 lá in các câu tục ngữ (Yomifuda), các lá còn lại in các hình ảnh kèm một chữ Hiragana ở góc trên cùng (Torifuda).

Iroha karuta

Iroha karuta

*Cách chơi: Người đọc sẽ cầm bộ Yomifuda gồm 48 lá tục ngữ và phải đọc những gì viết trên đó, trong khi những người xung quanh sẽ phải tìm lá Torifuda tương ứng. Người tìm ra trước sẽ thắng vòng đó và được nhận quân bài. Người sở hữu nhiều bài nhất sẽ thắng.

3. 花札 /Hanafuda/:

Hanafuda hay còn gọi là “bài hoa”, là loại bài in các loài hoa, cây cối và động vật tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Mỗi tháng sẽ có 4 lá bài và mỗi lá sẽ được vẽ cách điệu theo đặc trưng của từng mùa. Giống với bài Tây, bài Hanafuda cũng gồm 4 chất là Kasu, Tanzaku, Tane và Hikari.

Hanafuda

Hanafuda

- Kasu (カス): có nghĩa là "rác", là lá bài có điểm thấp nhất, chỉ có 1 điểm.

- Tanzaku (短冊): Tanzaku trong tiếng Nhật có nghĩa là những mảnh giấy nhỏ dài để người ta viết thơ hoặc điều ước lên đó. Tanzaku trong bộ bài Hanafuda có 5 lá, gồm 2 loại là Akatan (赤短) với hình mảnh giấy màu đỏ và Aotan (青短) với hình mảnh giấy màu tím. Mỗi lá bài này là 5 điểm.

- Tane (タネ): những lá bài Tane thường có hình động vật hoặc một đồ vật tượng trưng cho văn hóa Nhật Bản. Tane có tổng cộng 9 lá, mỗi lá giá trị 10 điểm.

- Hikari (光): đây là những lá bài cao điểm nhất với mỗi lá là 20 điểm và mỗi bộ bài Hanafuda sẽ có 5 lá Hikari.

*Cách chơi: Mỗi ván Hanafuda thường kéo dài 2 – 5 phút và một trận đấu sẽ kéo dài trong 12 ván hoặc ít hơn tùy vào thỏa thuận người chơi. Khi chơi Hanafuda, khác với 2 loại bài còn lại, người được điểm cao hơn sẽ là người chiến thắng. Số điểm được tính dựa vào những lá bài trên tay bạn. Lá bài được đánh ra để bắt các lá bài trên sàn chung, tạo thành các bộ gọi là Yaku (gồm 5 lá bài nhiều điểm). Mỗi Yaku lại tượng trưng cho một số điểm nhất định.

Nguồn: st

 
CỔ VŨ ĐẠI SỨ TRUYỀN CẢM HỨNG HOÀNG ĐỨC TẠI SEA GAMES 31 GIẢM 35% HỌC PHÍ 
(Áp dụng khóa OFFLINE từ 15/05 - 25/05/2022)